OMEGA – THƯƠNG HIỆU ĐỒNG HỒ “MẶT TRĂNG” ĐỘC NHẤT TỪ 1848

NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ CÙNG CÂU CHUYỆN THƯƠNG HIỆU OMEGA

Omega là chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hy Lạp và nó đại diện cho sự hoàn hảo và thành công trong việc hoàn thành nhiệm vụ. Câu chuyện về Omega bắt đầu vào năm 1848 tại La Chaux-de-Fonds, Thụy Sĩ, khi người sáng lập Louis Brandt ở tuổi 23 mở một văn phòng bán hàng theo hợp đồng phụ để sản xuất đồng hồ.

Năm 1880, do cung cấp nhiều hơn về nhân lực, thông tin liên lạc và năng lượng, Louis-Paul và Cesar Brandt chuyển đến một nhà máy nhỏ ở thành phố Bienne / Biel. Với sự ra đời của bộ máy được sản xuất hàng loạt đầu tiên, Labrador và Gurzelen, vào năm 1895, đồng hồ đã đạt được độ chính xác trong vòng 30 giây một ngày.

Bốn năm sau, Louis Brandt & Fils trở thành nhà sản xuất đồng hồ lớn nhất ở Thụy Sĩ, với tốc độ sản xuất 240.000 chiếc đồng hồ được sản xuất hàng năm và sử dụng nguồn nhân sự với 800 người. Nhưng thực tế này không ngăn cản sự độc quyền của những chiếc đồng hồ mà họ sản xuất: một ví dụ rõ ràng là đồng hồ đeo tay lặp lại phút, được phát triển vào năm 1892 với sự hợp tác của Audemars Piguet, và có lẽ là chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên thuộc loại này. Bộ máy Omega nổi tiếng đã trở thành một nghệ sĩ sáng giá trên thị trường khi nó được đưa vào sản xuất vào năm 1894. Điểm chính của nó về khả năng bán được là ở các bộ phận có thể thay thế dễ dàng và cấu tạo đơn giản. Chủ ngân hàng của công ty, Henri Rieckel, đã gợi ý tên “Omega” cho chiếc đồng hồ mới. Thành công vượt bậc của cái tên “Omega” khiến nó được sử dụng làm tên duy nhất cho tất cả các đồng hồ của công ty từ năm 1903.

Cả hai anh em nhà Brandt đều qua đời vào năm 1903, đặt số phận của công ty vào sự kiểm soát của 4 người, trong đó người lớn tuổi nhất là Paul-Emile Brandt mới 23 tuổi.

Omega xuất hiện lần đầu trong lĩnh vực thể thao trong thời gian biểu diễn khinh khí cầu quốc tế cho cuộc thi cúp Gordon Bennet diễn ra một số sự kiện. Quân đoàn bay Hoàng gia Anh đã quyết định chọn đồng hồ Omega vào năm 1917 làm máy đo thời gian chính thức cho các đơn vị chiến đấu của họ, cũng như quân đội Mỹ vào năm 1918. Omega là công ty đầu tiên được giao nhiệm vụ chính thức cho tất cả các bộ môn tại Thế vận hội Los Angeles ở Năm 1932. Từ thể thao đến lặn biển khoa học và các dòng đồng hồ thể loại này đã được tạo ra.

Một trong những thành tựu đáng chú ý nhất của Omega là kỷ lục thế giới về độ chính xác do đài thiên văn Kew-Teddington của Anh cấp vào năm 1936.

Năm 1952, Omega cũng được trao tặng Bằng khen Olympic vì “những dịch vụ xuất sắc cho thế giới thể thao”.

Omega Speedmaster được tạo ra vào năm 1957. Sau quá trình đánh giá và thử nghiệm nghiêm ngặt, NASA đã quyết định sử dụng “Đồng hồ đeo tay Omega Speedmaster Professional Chronograph vào năm 1965 làm đồng hồ bấm giờ chính thức. Năm 1967, chiếc đồng hồ đo thời gian thứ một triệu đã được chứng nhận.

Vào ngày 21 tháng 7 năm 1969, phi hành gia Neil Armstrong trở thành người đầu tiên bước lên mặt trăng. Khi thực hiện các bước để trở nên nổi tiếng, có một câu trích dẫn “một bước nhỏ cho con người, một bước nhảy vọt khổng lồ cho nhân loại” và anh ấy đã đeo chiếc đồng hồ bấm giờ Omega Speedmaster Professional của mình ngao du tại vũ trụ rộng lớn. Với thành tựu độc đáo này, Omega đã có một biệt danh độc nhất: Đồng hồ Mặt trăng.

Vào tháng 4 năm 1970, Omega Speedmaster đã giải cứu sứ mệnh Apollo XIII khỏi một thảm họa tiềm tàng, mang về cho Omega “Giải thưởng Snoopy”, danh hiệu cao quý nhất do NASA trao tặng.

Cơ quan Vũ trụ Nga cũng đã chọn đồng hồ Omega Speedmaster chronograph để đồng hành cùng các phi hành gia của họ.

Năm 1974, Omega sản xuất Marine Chronometer 2400, chiếc đồng hồ đeo tay chính xác nhất và có công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Chiếc đồng hồ đo thời gian hàng hải “Omega Megaquartz” huyền thoại này có thời gian biến thiên hàng ngày chỉ hai nghìn giây trong một thử nghiệm kéo dài 63 ngày.

Để tìm kiếm sự sang trọng, Omega đã dựa vào những nhà thiết kế kim hoàn uy tín nhất và tạo ra những kiệt tác thực sự với độ tinh xảo cao nhất. Kết quả là vào năm 1985, Omega đã nhận được giải thưởng Triomphe de l’excellence européenne cho chất lượng và sự độc đáo của các mẫu đồng hồ.

Vào ngày 18 tháng 5 năm 1983, Omega đã nhận được chứng nhận xếp hạng chính thức thứ 100.000 cho máy đo thời gian bằng thạch anh. Một bảo tàng cho công ty đã được mở cửa vào ngày 16 tháng 12 năm 1983. Năm 1995, các bài thuyết trình đã được thực hiện về chiếc đồng hồ đeo tay tự động đầu tiên với một tourbillion gắn ở trung tâm. Năm 1999, Omega đã làm nên lịch sử bằng cách giới thiệu chiếc đồng hồ sản xuất hàng loạt đầu tiên kết hợp “co-axial escapement”(bộ thoát đồng trục) mang tính cách mạng – được phát minh bởi thợ đồng hồ người Anh George Daniels. Được nhiều người coi là một trong những tiến bộ quan trọng nhất về mặt đồng hồ kể từ khi phát minh ra bộ thoát đòn bẩy, bộ thoát đồng trục có chức năng hầu như không cần bôi trơn, do đó loại bỏ một trong những thiếu sót của bộ thoát đòn bẩy truyền thống. Sự cải tiến này đã kéo dài khoảng thời gian phục vụ lên khoảng 10 năm.

Đọc đến đây chắc hẳn không ít những nhà sưu tầm đồng hồ chính hiệu lại có thêm lý do để mến mộ thương hiệu đồng hồ có bề dày lịch sử lâu năm như Omega? Và liệu đâu sẽ là lựa chọn của bạn cho những dòng sản phẩm thuộc thương hiệu này. Tại Spacetime hiện tại còn khoảng vài mẫu cực hiếm được sản xuất vào những thập kỷ trước. Các Spacetimer có thể tham khảo bên dưới để tuyển lựa cho mình những siêu phẩm đắt giá nhất lịch sử.

Leave a Reply

Your email address will not be published.